Project Data · đồng bộ tự động

51 hồ sơ công khai

Những câu hỏi
chưa khép lại.

Toàn bộ hồ sơ Ngôn ngữ cổ đại được đồng bộ từ kho dữ liệu chuẩn, phân thành sáu nhóm chuyên môn và chín lớp thông tin có thể kiểm chứng.

Khám phá danh mục
Dự án công khai
51
Hồ sơ nổi bật
02
Nhóm chuyên môn
06
02

Research index

Toàn bộ dự án

Lọc theo nhóm chuyên môn. Mỗi hồ sơ chỉ có một nhóm chủ quản để tránh sao chép và sai lệch phiên bản.

Địa lý được lập chỉ mục theo địa bàn hiện đại, không phải tuyên bố về chủ quyền. Chỉ số quan tâm phản ánh độ phong phú của hồ sơ công khai, không phải số lượt xem.

Hiển thị 51 dự án
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Byblos syllabary / pseudo-hieroglyphic

Corpus gồm một nhóm rất nhỏ văn khắc thời đồ đồng tìm tại Byblos/Jbeil trên bảng và spatula đồng, bia và mảnh đá. Dunand công bố mười văn bản chính năm 1945 và thêm các mảnh sau đó; vì vậy tài liệu hiện đại có thể nói 10 hoặc 14 tùy phạm vi. Khoảng hơn 100 dạng dấu từng được liệt kê, phần lớn văn bản ngắn và không có song ngữ. Nhiều “lời giải” đã được đề xuất từ 1946 nhưng chưa đạt đồng thuận.

Vị trí
Liban
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ II TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
51/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Chữ Indus / Harappa

Chữ Indus là tập hợp các chuỗi dấu trên con dấu, dấu in, bảng nhỏ, gốm, kim loại và các vật thể của văn minh Indus/Harappa, tập trung trong giai đoạn đô thị khoảng 2600–1900 TCN. Các hiện vật và ngữ cảnh khảo cổ là 🟢 chứng thực; nhiều phân tích cho thấy dấu có quy tắc vị trí và kết hợp. Tuy nhiên, phần lớn chuỗi cực ngắn, không có văn bản song ngữ đã biết và ngôn ngữ nền chưa xác định. Vì vậy chưa có bản dịch nào đạt đồng thuận. Ngay cả mệnh đề “đây là chữ ghi ngôn ngữ đầy đủ” cũng từng bị phản bác; dữ liệu thống kê ủng hộ tính có cấu trúc nhưng không tự nó chứng minh duy nhất rằng các dấu mã

Vị trí
Pakistan · Ấn Độ
Niên đại
chủ yếu khoảng 2600–1900 TCN
Trạng thái
06 · Nghiên cứu giải mã
Mức quan tâm
85/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Cretan Hieroglyphic

Cretan Hieroglyphic là hệ chữ sớm nhất được xác nhận trên đảo Crete, dùng chủ yếu khoảng 1900–1600 TCN trên con dấu, dấu niêm đất sét, tài liệu hành chính và một số đồ gốm/đá. CHIC của Louis Godart và Jean-Pierre Olivier (1996) là corpus tham chiếu, nhưng ngay cả ranh giới sign list vẫn đang được sửa: nghiên cứu 2023 nêu 96 dấu được CHIC xem là âm tiết, cộng logogram, số và dấu phân cách, đồng thời cảnh báo một hình trên con dấu có thể là chữ, biểu tượng hoặc trang trí. Ngôn ngữ, âm trị và bản dịch liên tục đều chưa biết.

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng 2100–1700 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
45/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Cypro-Minoan

Cypro-Minoan là hệ chữ chưa giải mã của Cyprus thời đồ đồng muộn, cũng xuất hiện tại Ugarit và một số điểm giao thương Đông Địa Trung Hải. Vật mang tin rất đa dạng: bảng và trụ đất sét, cầu đất sét nhỏ, bình gốm, đồ đồng và ngà. Tổng hợp của Silvia Ferrara mô tả không quá khoảng 250 văn khắc, phần lớn ngắn. Cách chia truyền thống thành CM0, CM1, CM2 và CM3 hữu ích để mô tả hình thái/địa điểm nhưng không nên tự động hiểu là bốn hệ chữ hoặc bốn ngôn ngữ độc lập.

Vị trí
Síp
Niên đại
khoảng 1550–1050 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
50/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Isthmian / Epi-Olmec script

Hệ dấu được biết rõ nhất qua Bia La Mojarra 1 và tượng nhỏ Tuxtla, cùng một số ít hiện vật khác ở vùng eo đất Mesoamerica. Long Count trên các hiện vật có thể nhận diện độc lập với việc đọc phần văn tự, nên niên đại thế kỷ II CN không đồng nghĩa rằng toàn bộ chữ đã được giải. Justeson và Kaufman đề xuất năm 1993 rằng đây là hệ logo-âm tiết ghi một dạng tiền-Zoque; bài kiểm tra năm 1997 được các tác giả xem là xác nhận. Tuy nhiên cách đọc vẫn bị phản biện về khả năng khớp quá mức, và chuyên khảo của Martha J. Macri (2026) phân tích cấu trúc mà không chấp nhận một bản giải từng từ.

Vị trí
Mexico
Niên đại
khoảng thế kỷ III TCN–II SCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
62/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Linear A

Linear A là hệ chữ thời đại đồ đồng dùng chủ yếu tại Crete, khoảng 1800–1450 TCN, trên bảng đất sét, niêm phong, đồ gốm và vật dâng lễ. Hiện vật, corpus và chức năng hành chính của nhiều bảng là 🟢 được chứng thực. Nhiều dấu được chuyển tự bằng giá trị gần với Linear B và một số logogram, số, phân số có thể nhận diện; tuy nhiên phép chiếu âm từ Linear B không tự chứng minh cách phát âm Linear A, càng không tạo ra bản dịch. Ngôn ngữ nền, từ vựng và phần lớn cú pháp vẫn chưa xác định.

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng 1800–1450 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
65/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Proto-Elamite

Proto-Elamite được biết từ hơn 1.700 bảng đất sét, chủ yếu là hồ sơ hành chính, phân bố trên cao nguyên Iran và tập trung lớn tại Susa. Hệ số và một phần cấu trúc kế toán đã được phân tích; phần lớn dấu phi số, giá trị ngôn ngữ và quan hệ với tiếng Elamite vẫn chưa xác định. Vì hệ ghi chép gắn yếu với lời nói, “giải mã” ở đây có thể là khôi phục quy tắc kế toán chứ không nhất thiết tạo ra bản dịch câu như một văn bản ngôn ngữ đầy đủ.

Vị trí
Iran
Niên đại
khoảng 3100–2900 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
65/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Rongorongo

Rongorongo là corpus ký hiệu khắc trên dưới 30 vật gỗ còn lại từ Rapa Nui. Các bảng và kỹ thuật khắc là 🟢 có thật; hướng trình bày đảo chiều kiểu reverse boustrophedon và nhiều chuỗi lặp có thể nghiên cứu. Tuy nhiên corpus nhỏ, phân tán, bản sao/copy không đồng đều, ngôn ngữ Rapa Nui cổ được ghi nhận muộn và không có song ngữ. Chưa chứng minh chắc rằng đây là hệ chữ ghi âm đầy đủ, và chưa có bản dịch được đồng thuận.

Vị trí
Chile · Rapa Nui
Niên đại
niên đại khởi đầu chưa thống nhất; hiện vật còn lại chủ yếu thế kỷ XIX
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
79/100
Hệ chữ chưa giải mã Đã rà soát nguồn

Singapore Stone

Singapore Stone là mảnh còn lại của khối sa thạch lớn từng đứng ở cửa sông Singapore, gần vị trí Fullerton Hotel hiện nay. Khối đá cao và rộng khoảng 3 m, có mặt phẳng mang xấp xỉ 50 dòng chữ đã mòn. Chính quyền thuộc địa Anh cho nổ đá tháng 1 năm 1843 để mở rộng khu Fort Fullerton và nhà ở quân sự. Bốn mảnh từng được cứu và gửi Calcutta; chỉ một mảnh được trả về Singapore năm 1919, hiện thuộc National Museum of Singapore. National Heritage Board định niên đại rộng thế kỷ X–XIV, mô tả chữ là Kawi với một số yếu tố Sanskrit, nhưng nội dung chưa bao giờ được đọc trọn.

Vị trí
Singapore
Niên đại
thường quy khoảng thế kỷ X–XIII
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
47/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Chữ Khitan lớn

Chữ Khitan lớn (Kitl, ISO 15924: 505) là một trong hai hệ chữ dùng để ghi tiếng Khitan. Sử liệu truyền thống quy việc tạo chữ vào năm 920 cho hoàng đế Yelü Abaoji cùng Yelü Tulübu và Yelü Lubugu. Hệ chữ mang hình thức kiểu chữ Hán nhưng không thể đọc bằng cách thay từng hình bằng một chữ Hán. Nghiên cứu hiện nay thường mô tả nó là hệ logo–âm tiết: nhiều dấu biểu thị từ/nghĩa, trong khi một phần có chức năng ghi âm.

Vị trí
Trung Quốc
Niên đại
từ đầu thế kỷ X
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
53/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Chữ Khitan nhỏ

Chữ Khitan nhỏ (Kits, ISO 15924: 288) là hệ chữ chủ yếu ghi âm tiết, dùng các glyph đơn hoặc ghép thành khối để ghi tiếng Khitan. Unicode ghi truyền thống sáng tạo khoảng năm 925 bởi Yelü Diela; câu chuyện chịu ảnh hưởng chữ Uyghur được sử liệu nêu nhưng hình thức hai hệ ít tương đồng. Chữ nhỏ và chữ lớn cùng tồn tại, cùng vùng và cùng chức năng, nhưng không phải hai font của một hệ.

Vị trí
Trung Quốc
Niên đại
từ thế kỷ X
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
53/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Chữ và ngôn ngữ Iberia cổ

Tiếng Iberia được ghi trên khoảng 2.300 văn khắc từ cuối thế kỷ V TCN đến thời Augustus, phân bố dọc bờ Địa Trung Hải từ sông Hérault ở nam Pháp đến Almería, với mật độ sâu vào thung lũng Ebro. Phần lớn corpus dùng chữ Iberia đông-bắc; ngoài ra còn chữ đông-nam và bảng chữ cái Hy Lạp–Iberia. Manuel Gómez-Moreno nhận ra cấu trúc bán âm tiết và đọc phần lớn giá trị dấu vào đầu thế kỷ XX. Vì vậy có thể chuyển tự nhiều văn bản, nhận diện tên riêng, hậu tố và một số công thức. Tuy nhiên thiếu song ngữ dài, không có họ hàng gần đã hiểu chắc chắn, phân đoạn từ không ổn định và nghĩa của văn bản dài p

Vị trí
Tây Ban Nha · Bồ Đào Nha
Niên đại
khoảng thế kỷ V–I TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
45/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Chữ và ngôn ngữ Meroitic

Meroitic ghi ngôn ngữ của vương quốc Kush bằng hai bộ dạng có cùng hệ thống nền: dạng tượng hình dùng chủ yếu trên đền và tượng đài hoàng gia, và dạng thảo dùng rộng hơn trên bia, đồ tùy táng, ostraca và graffiti. F. Ll. Griffith xác lập phần lớn giá trị dấu trong giai đoạn 1907–1911, nên ngày nay có thể đọc theo quy ước nhiều chuỗi chữ. Tuy vậy, thiếu văn bản song ngữ dài và thiếu một ngôn ngữ hậu duệ được đồng thuận khiến phần lớn từ vựng, động từ và nội dung kể chuyện vẫn chưa chắc.

Vị trí
Sudan
Niên đại
khoảng thế kỷ III TCN–IV SCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
57/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Chữ Zapotec cổ

Chữ Zapotec cổ là truyền thống ký tự lâu đời ở Oaxaca, Mexico. Javier Urcid mô tả hệ dường như logo–âm tiết ngay từ khoảng 600 TCN và nhiều dòng chứng cứ cho thấy nó mã hóa một dạng cổ của họ ngôn ngữ Zapotec. Hệ tồn tại khoảng 1.500 năm; đến không muộn hơn thế kỷ X, uy tín của nó suy giảm và nó được thay dần bằng truyền thống biểu đạt Mixteca–Puebla.

Vị trí
Mexico
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ I TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
54/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Khắc văn bản địa quần đảo Canary

Các đảo Canary bảo tồn một corpus khắc đá hỗn hợp. Lớp chắc nhất là chữ Libyco-Berber Canary, một nhánh của truyền thống chữ cổ Bắc Phi và bằng chứng trực tiếp về nguồn gốc Amazigh/Imazighen của cư dân bản địa. Lanzarote và Fuerteventura còn có một truyền thống thường gọi Latino-Canarian hoặc Libyco-Canarian, dùng hình dạng chữ gần Latin. Các hình người, tam giác, bàn chân, thuyền, cốc lõm và hình học đi cùng panel không mặc nhiên là chữ.

Vị trí
Tây Ban Nha · Canary
Niên đại
giai đoạn cổ đại muộn–tiền cận đại
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
62/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Linear Elamite / Late Proto-Iranian

Linear Elamite là hệ chữ dùng ở nửa nam cao nguyên Iran khoảng 2300–1880 TCN. Cơ sở Hatamti của Université de Liège ghi 45 văn khắc đã biết vào năm 2025. Một số văn bản thời Puzur-Sušinak có đối bản Akkadian hình nêm hoặc nội dung song hành, tạo neo cho tên riêng và tước hiệu. Desset, Tabibzadeh, Kervran, Basello và Marchesi công bố năm 2022 một lời giải gần hoàn chỉnh, đọc hệ chữ chủ yếu theo âm và nhận ngôn ngữ Elamite/Hatamtite. Khóa này hiện được triển khai trong database và ấn bản Susa 2025, nhưng độ chắc chắn không đồng đều: một số dấu chưa đọc, dịch tiếng Elamite cổ còn xấp xỉ, nguồn gố

Vị trí
Iran
Niên đại
khoảng cuối thiên niên kỷ III TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
42/100
Đọc được một phần Đã rà soát nguồn

Proto-Sinaitic và Proto-Canaanite sớm

Các văn khắc Proto-Sinaitic tại Serabit el-Khadim ở Sinai thuộc những thử nghiệm alphabet sớm nhất đã biết. Người viết lấy hình thức gợi từ ký hiệu Ai Cập nhưng dùng nguyên tắc acrophonic: hình một vật đại diện phụ âm đầu của tên vật đó trong một ngôn ngữ Semitic Tây. Hệ thống chủ yếu ghi phụ âm, repertoire nhỏ hơn hệ chữ tượng hình và chưa chuẩn hóa hướng viết hay hình dạng dấu.

Vị trí
Ai Cập · Israel
Niên đại
khoảng đầu thiên niên kỷ II TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
57/100
Văn bản và hiện vật bí ẩn Đã rà soát nguồn

Bản thảo Voynich

Voynich là một codex minh họa trên da thuộc, hiện còn 102 folio cùng nhiều lá gấp và dấu vết lá thất lạc. Catalog Yale ghi kích thước khoảng 225 × 160 mm. Bốn mẫu da thuộc được đo C-14 cho khoảng lịch 1404–1438 với xác suất thường công bố 95%; kết quả này định tuổi động vật/vật liệu, không tự động xác định ngày viết. Phân tích McCrone cho thấy các mực đen được lấy mẫu có đặc điểm/hoá học tương tự nhau và phù hợp loại mực iron-gall lịch sử; phép đó không phải định tuổi tuyệt đối của mực.

Vị trí
Chưa xác định
Niên đại
da thuộc được định tuổi 1404–1438
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
85/100
Văn bản và hiện vật bí ẩn Đã rà soát nguồn

Codex Rohonc

Codex Rohonc là thủ bản giấy nhỏ 120 × 100 mm, gồm 224 folio/448 trang, viết dày khoảng 9–14 dòng mỗi trang và có 87 minh họa. Thư viện và Trung tâm Thông tin Viện Hàn lâm Khoa học Hungary (MTA KIK) lưu giữ dưới shelfmark K 114; record chính thức xác nhận nó từ Thư viện Batthyány tại Rohonc vào thư viện Viện Hàn lâm năm 1838.

Vị trí
Hungary
Niên đại
niên đại chưa chắc chắn; thường đặt trong thời cận đại
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
62/100
Văn bản và hiện vật bí ẩn Đã rà soát nguồn

Đĩa Phaistos

Đĩa Phaistos là một đĩa đất sét nung, đường kính không đều 15,8–16,5 cm, có dấu đóng theo đường xoắn ốc trên cả hai mặt. Luigi Pernier tìm thấy nó tối 3-7-1908 trong vano 8/Room 8 của House 101 thuộc khu đông-bắc Phaistos, cùng một mảnh bảng Linear A thường mang mã PH 1. Pernier đã lưu ý đĩa không còn nguyên vị trí sử dụng mà có thể rơi từ kết cấu phía trên; do đó “tìm ở Phaistos” không đồng nghĩa chắc chắn “chế tạo tại Phaistos”. Hiện vật hiện ở Phòng V, tủ 51 của Bảo tàng Khảo cổ Heraklion, số kiểm kê Π-Ν1358.

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng thế kỷ XVII TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
65/100
Văn bản và hiện vật bí ẩn Đã rà soát nguồn

Nova H 176 (thường ghi Nova N 176)

Nova H 176 là codex giấy viết bằng mực, hiện lưu tại Institute of Oriental Manuscripts thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (IOM RAS), Saint Petersburg. Nó không còn là một văn bản “không xác định hệ chữ”: năm 2010 Viacheslav P. Zaytsev đối chiếu các từ như “quốc gia”, “hoàng đế”, quốc hiệu Khitan và dạng dấu trên bia mộ để nhận diện chắc rằng văn bản dùng chữ Khitan lớn, dạng bán thảo/thảo, ghi ngôn ngữ Khitan. Hệ chữ và ngôn ngữ đã nhận diện, nhưng phần lớn dấu thảo, từ vựng và nội dung vẫn chưa đọc được.

Vị trí
Kyrgyzstan
Niên đại
mốc nội văn 1045; ngày sao chép chưa chắc chắn
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
57/100
Văn bản và hiện vật bí ẩn Đã rà soát nguồn

Rìu Arkalochori

Rìu Arkalochori là đầu rìu kép đúc bằng đồng, dài 24,1 cm và rộng 74 mm tại lỗ tra cán, hiện thuộc Bảo tàng Khảo cổ Heraklion với số kiểm kê X2416. Một mặt có 15 dấu nổi, chia ba cột dọc theo phân bố 6–6–3 quanh phần giữa phía trên lỗ cán. Các dấu được quan sát được; nhưng không có bảng song ngữ, không có khóa âm chắc và không có bản dịch được đồng thuận.

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ II TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
59/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Beale Ciphers số 1 và 3

Nguồn công khai sớm nhất hiện truy được là pamphlet 23 trang The Beale Papers, in tại Lynchburg, Virginia năm 1885, bán giá 50 cent và đăng quyền dưới tên J. B. Ward. Pamphlet kể rằng Thomas J. Beale gửi một hộp sắt cho chủ khách sạn Robert Morriss; ba tờ số lần lượt mô tả vị trí hầm, tài sản và danh sách người liên quan. Chính pamphlet nói số 2 được giải bằng một phiên bản đánh số từ của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ; số 1 và 3 chưa có plaintext/khóa được chấp nhận.

Vị trí
Hoa Kỳ
Niên đại
công bố năm 1885
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
40/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Các bảng chữ trong Book of Soyga

Book of Soyga, còn mang nhan đề Aldaraia sive Soyga vocor, là một chuyên luận ma thuật Latin vô danh, hiện còn trong hai thủ bản thế kỷ XVI: Oxford, Bodleian Library, MS Bodley 908 và London, British Library, Sloane MS 8. Hai bản không “được đào lên” năm 1994; chúng đã được catalog dưới tên Aldaraia. Deborah Harkness nhận dạng chúng là tác phẩm John Dee gọi Soyga.

Vị trí
Vương quốc Anh
Niên đại
thế kỷ XVI
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

D'Agapeyeff Cipher

D’Agapeyeff Cipher là chuỗi 395 chữ số Alexander d’Agapeyeff đặt ở cuối ấn bản đầu Codes and Ciphers (Oxford University Press, 1939), sau lời mời người đọc thử sức. Catalog xác nhận sách tiếng Anh, 160 trang; bản 1949 được mô tả là “revised and reset”. Thử thách không còn trong các bản sửa sau.

Vị trí
Vương quốc Anh
Niên đại
công bố năm 1939
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
30/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Dorabella Cipher

Dorabella là một ghi chú ba dòng, 87 ký hiệu, được Dora Penny kể là nhận kèm thư ngày 14-07-1897 của Caroline Alice Elgar sau chuyến thăm gia đình Penny ở Wolverhampton. Ghi chú được quy cho Edward Elgar; mặt sau ghi Miss Penny. Dora không đọc được và công bố facsimile trong hồi ký Edward Elgar: Memories of a Variation.

Vị trí
Vương quốc Anh
Niên đại
năm 1897
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
30/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Ghi chép Ricky McCormick

Ngày 30-06-1999, thi thể Ricky C. McCormick, 41 tuổi, được phát hiện gần khu 14000 Highway 94 North, West Alton, Missouri. Major Case Squad (MCS) ghi vụ số 318 là suspicious death, nghi phạm chưa biết và nói “a note” trong túi chưa giải được. FBI về sau mô tả McCormick bị giết, bỏ lại ngoài đồng và có hai tờ ghi chép mã hóa trong túi quần. Hồ sơ giữ nguyên khác biệt một/hai tờ và suspicious death/murder vì nguồn công khai không giải thích sự chuyển loại.

Vị trí
Hoa Kỳ
Niên đại
phát hiện năm 1999
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
62/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Kryptos K4

Kryptos là tác phẩm môi trường của Jim Sanborn, được chọn cho trụ sở mới CIA tháng 11-1988 và dựng/khánh thành năm 1990 tại sân trong trụ sở CIA ở Langley, Virginia. GSA ghi vật liệu granite, quartz, copper, earth và plants; CIA mô tả thêm gỗ hóa thạch, lodestone và các phần nước. Màn đồng chữ S có 1.735 chữ cái cắt rỗng, gồm phía ciphertext và một tableau kiểu Vigenère đảo, trong một quần thể hai phần.

Vị trí
Hoa Kỳ
Niên đại
khánh thành năm 1990
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
60/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Mã Rubaiyat của người đàn ông Somerton

Ngày 1-12-1948, một người đàn ông tử vong được tìm thấy trên bãi biển Somerton, Nam Australia. Trong một túi nhỏ trên quần ông có mẩu giấy in “Taman Shud” theo cách ghi của hồ sơ điều tra. Cuốn Rubaiyat được cho là nguồn của mẩu giấy chỉ được một người dân giao cảnh sát ngày 22-7-1949, sau khi cuộc thẩm vấn tử thi đầu tiên đã hoãn vô thời hạn. Ở mặt sau sách có số điện thoại và một chuỗi chữ chì mờ được chụp tăng tương phản.

Vị trí
Australia
Niên đại
năm 1948
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Mật mã chưa phá Đã rà soát nguồn

Zodiac Z13 và Z32

Z13 là chuỗi 13 ký hiệu đặt sau câu “My name is—” trong thư gửi San Francisco Chronicle, đề ngày/bưu dấu 20-4-1970. Z32 là chuỗi 32 ký hiệu trong thư ngày 26-6-1970, đi cùng bản đồ đường bộ Phillips 66 có tâm dấu ngắm ở Mount Diablo và lời khẳng định bản đồ–mã sẽ chỉ nơi đặt bom. Một thư ngày 26-7-1970 bổ sung rằng mã Mount Diablo liên quan đến “Radians & inches along the radians”.

Vị trí
Hoa Kỳ
Niên đại
giai đoạn 1969–1970
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
40/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Bảng Dispilio

Hiện vật là một mảnh gỗ tuyết tùng ướt (Cedrus sp.), gần tứ giác, kích thước 23 × 19,2 × 2 cm, có dấu cháy và tối đa 10 hàng nét khắc tuyến tính trên mặt trước; một số nét còn xuất hiện ở cạnh mỏng phía trên. Nó được tìm thấy tháng 7-1993 trong ô thử D158dc sát bờ hồ tại khu định cư Dispilio, khi bùn được lấy khỏi khung đào và mảnh gỗ nổi trên mặt nước đang thấm vào ô.

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng 5260 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Biểu tượng Vinča

Biểu tượng Vinča là các nét khắc hoặc vẽ trên gốm, tượng nhỏ, con suốt và vật thể đất nung của những cộng đồng Neolithic tại trung và đông nam châu Âu. Trọng tâm là văn hóa Vinča ở lưu vực Danube–Balkan, khoảng 5400/5300–4500 TCN theo mô hình C14 hiện đại; một “truyền thống Danube” rộng hơn đôi khi được kéo tới khoảng 3400–3200 TCN, nhưng không được đồng nhất tự động với Vinča.

Vị trí
Serbia · Romania
Niên đại
khoảng 5300–4500 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Các bảng Tărtăria

Ba vật đất sét nhỏ — một bảng chữ nhật không lỗ, một bảng chữ nhật có lỗ và một bảng tròn có lỗ — được Nicolae Vlassa công bố năm 1963 là phát hiện trong cuộc khai quật 1961 tại Tărtăria–Gura Luncii, Alba, Romania. Chúng mang hình/dấu khắc trên một mặt và được báo cáo cùng xương người rời rạc, tượng nhỏ, hai tượng đá tuyết hoa (alabaster) và vòng tay vỏ Spondylus trong một hố thường gọi là “hố nghi lễ”. Hiện vật được lưu giữ tại Muzeul Național de Istorie a Transilvaniei (MNIT), Cluj-Napoca.

Vị trí
Romania
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ VI–V TCN; còn tranh luận
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
30/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Các bia đá Ikom / Akwanshi

Đây không phải một “tấm bia có văn bản chưa giải mã” đơn lẻ mà là một truyền thống điêu khắc đá nhân hình phân bố tại khoảng ba mươi địa điểm của các cộng đồng Bakor ở vùng Middle Cross River, đông-nam Nigeria. Khoảng ba trăm tảng đá bazan hoặc đá vôi đã được các đợt khảo sát ghi nhận; chúng cao từ khoảng 20 cm đến 2–3 m, thường đứng thành vòng/oval quay vào khoảng trung tâm. Mặt trước mang mắt, mũi, miệng, râu, rốn, tay và các mô-típ hình học; mặt sau thường ít hoặc không chạm.

Vị trí
Nigeria
Niên đại
niên đại chưa chắc chắn; thường quy khoảng thế kỷ VI–XX
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Chữ/ký hiệu Teotihuacan

Teotihuacan để lại một corpus lớn nhưng phân tán gồm dấu hình trong tranh tường, đồ gốm, kiến trúc và các bố cục giống văn bản. James C. Langley khảo sát hơn 1.000 hiện vật, ước tính khoảng 120 dấu và gọi đây là hệ ký hiệu bổ trợ hình ảnh; ông không thấy văn khắc hay hồ sơ tài liệu theo nghĩa hẹp. Karl Taube (2000) và Helmke–Nielsen (2021) lập luận mạnh hơn rằng ít nhất một phần corpus là chữ viết có yếu tố logophonetic. Không có văn bản dài, song ngữ hay chuỗi cú pháp đủ mạnh để tạo đồng thuận về ngôn ngữ và âm trị.

Vị trí
Mexico
Niên đại
khoảng thế kỷ I–VII
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
62/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Da Kaymajarvi

Vị trí
Thụy Điển
Niên đại
được ghi chép từ năm 1687
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
54/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Dấu BMAC / Margiana

Bactria–Margiana Archaeological Complex (BMAC), còn gọi là Oxus Civilization, phát triển tại nam Trung Á vào cuối thiên niên kỷ III–đầu thiên niên kỷ II BCE. Các trung tâm như Gonur Depe, Togolok và Djarkutan để lại kiến trúc, luyện kim, con dấu và dấu niêm phong phong phú. Nhưng một xã hội dùng con dấu không tự động có hệ chữ: phần lớn glyptic BMAC đã công bố là hình học, động vật, thực vật hoặc cảnh biểu tượng và thường được mô tả là không có chữ.

Vị trí
Turkmenistan · Afghanistan · Uzbekistan
Niên đại
khoảng 2300–1700 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
60/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Hai khắc văn Wadi el-Hol

Wadi el-Hol Early Alphabetic Texts 1 và 2 là hai dòng khắc trên vách đá vôi dọc Farshut Road, tuyến sa mạc vượt Qena Bend ở Thượng Ai Cập. Bản công bố gốc phân biệt một inscription ngang gồm 16 dấu và một inscription dọc gồm 12 dấu: tổng 28 vị trí, khoảng 14 loại dấu khác nhau. Chúng được John Coleman và Deborah Darnell nhận diện trong khảo sát giữa thập niên 1990, công bố sơ bộ năm 1999 và xuất bản đầy đủ trong AASOR 59 (2005).

Vị trí
Ai Cập
Niên đại
khoảng đầu thiên niên kỷ II TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Khắc văn Alekanovo

Mùa thu năm 1897, nhà khảo cổ Vasily A. Gorodtsov công bố một bình gốm nhỏ mang dãy dấu từ cồn cát Alekanovo bên tả ngạn sông Oka, tỉnh Ryazan của Đế quốc Nga. Bài sơ cấp là “Заметка о глиняном сосуде с загадочными знаками” trong Археологические известия и заметки, tập 5, số 12, tr. 385–390. Năm 1898 ông tiếp tục báo cáo năm dấu tương tự trên các mảnh gốm Alekanovo.

Vị trí
Nga
Niên đại
khoảng thế kỷ X–XI
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
36/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Khipu / Quipu

Khipu là thiết bị ghi tin ba chiều của Andes: một dây chính mang các dây rủ và dây phụ, với thông tin nằm trong số lượng/vị trí/kiểu nút, màu, vật liệu, hướng xoắn, cách gắn và cấu trúc nhóm. Dạng Inka phục vụ quản trị dân số, thuế, lao dịch, kho và hàng hóa; nguồn thuộc địa còn mô tả lịch sử, thư tín và ghi nhớ nghi lễ.

Vị trí
Peru · Bolivia
Niên đại
truyền thống tiền Colombo; corpus Inca chủ yếu thế kỷ XV–XVI
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
40/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Khối Cascajal

Khối Cascajal là một phiến serpentinite/serpentine khoảng 36 × 21 × 13 cm, nặng khoảng 12 kg, có 62 dấu khắc thuộc một tập khoảng 28 kiểu theo kiểm kê ban đầu. Hiện vật được báo cáo năm 1999 từ đống vật liệu do máy ủi làm xáo trộn tại Lomas de Tacamichapan, Veracruz, chứ không được thu hồi trong một cuộc khai quật nguyên vị. Nhóm công bố năm 2006 gán nó cho pha San Lorenzo, khoảng 1000–800 TCN, dựa vào gốm và vật liệu được báo cáo là đi kèm.

Vị trí
Mexico
Niên đại
khoảng đầu thiên niên kỷ I TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Ký hiệu Ba–Shu

“Ký hiệu Ba–Shu” là tên bao trùm cho các hình và tổ hợp dấu được đúc, khắc hoặc trang trí trên hiện vật—chủ yếu binh khí đồng, kế đến ấn, nhạc khí, công cụ và một ít đồ sơn/gỗ—từ vùng Tứ Xuyên–Trùng Khánh và lân cận. Khung thịnh hành có bằng chứng tốt nhất là đầu Chiến Quốc đến đầu Tây Hán; một số hiện vật có thể muộn tới Đông Hán.

Vị trí
Trung Quốc
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ I TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Ký hiệu Banpo

Các dấu Banpo là những nét khắc có provenance khảo cổ trên đồ gốm thuộc văn hóa Yangshao tại Banpo, phía đông Tây An. Báo cáo khai quật năm 1963 là điểm neo sơ cấp; tổng hợp thường dùng ghi 22 loại dấu trên 113 mảnh gốm nếu không tính biến thể. Các dấu Banpo được công bố dưới dạng dấu đơn, không phải chuỗi văn bản.

Vị trí
Trung Quốc
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ V TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
30/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Ký hiệu Jiahu

Jiahu là một khu định cư thời Đồ đá mới thuộc loại hình Peiligang tại Wuyang, Hà Nam. Trên một số mai/yếm rùa, xương, đá và gốm từ bối cảnh mộ, hố tro và nền nhà có các nét khắc. Phần lớn các dấu được thảo luận thuộc pha II, khoảng 6600–6200 TCN; toàn di chỉ kéo dài khoảng 7000–5800 TCN theo Bảo tàng Hà Nam.

Vị trí
Trung Quốc
Niên đại
khoảng 6600 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Ký hiệu Pictish

Hệ ký hiệu Pictish xuất hiện chủ yếu trên đá, vách hang và một số vật nhỏ ở miền bắc và đông Scotland. Hình thú, vật dụng và dạng hình học thường đứng thành cặp; các tên crescent-and-V-rod, double-disc-and-Z-rod hay “Pictish beast” là nhãn mô tả hiện đại, không phải nghĩa cổ đã biết.

Vị trí
Vương quốc Anh
Niên đại
khoảng thế kỷ III–IX
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Mảnh gốm Youra có dấu khắc

Hang Cyclops trên đảo Youra/Yioura (Bắc Sporades, Hy Lạp) là địa điểm khảo cổ thật, được Adamantios Sampson chỉ đạo khai quật có hệ thống năm 1992–1996. Địa tầng có cư trú Mesolithic và Neolithic; đồ gốm Middle/Late Neolithic gồm sơn đỏ trên nền trắng, đắp dây, rạch, ấn và chấm.

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng thiên niên kỷ VI TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Ký hiệu gây tranh cãi Đã rà soát nguồn

Shugborough Inscription

Shugborough Inscription là mười chữ Latin hoa và các dấu chấm khắc trên bệ cẩm thạch dưới phù điêu Les Bergers d’Arcadie tại Shepherd’s Monument, Shugborough Estate, Staffordshire. Bố cục thật gồm hàng trên O·U·O·S·V·A·V·V, với D· thấp bên trái và M· thấp bên phải. Viết OUOSVAVV là dạng rút gọn phổ biến nhưng làm mất hai chữ và không gian bố cục.

Vị trí
Vương quốc Anh
Niên đại
khoảng giữa thế kỷ XVIII
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
35/100
Đối chứng Đã rà soát nguồn

Ban Thao Copiale

Vị trí
Đức
Niên đại
khoảng thập niên 1760
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
58/100
Đối chứng Đã rà soát nguồn

Codex Seraphinianus

Vị trí
Ý
Niên đại
sáng tác khoảng 1976–1978
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
54/100
Đối chứng Đã rà soát nguồn

Linear B

Vị trí
Hy Lạp
Niên đại
khoảng 1450–1200 TCN
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
62/100
Đối chứng Đã rà soát nguồn

Wingmakers Ancient Arrow

Điều được xác minh là website, sản phẩm, công ty và người quản lý web; không phải hẻm núi, phòng ngầm hay hiện vật trong truyện. “James Mahu” vẫn là danh tính bút hiệu/chưa công khai; chưa có chứng cứ dương tính để đồng nhất người này với Mark Hempel. Việc có sản phẩm thương mại không tự chứng minh ý đồ lừa đảo.

Vị trí
Hoa Kỳ
Niên đại
xuất hiện công khai cuối thập niên 1990
Trạng thái
Chờ đánh giá vòng đời
Mức quan tâm
60/100